Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • hinhCu 1200
  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200

Nghệ thuật, nói một cách ngắn gọn, là chọn lựa và sắp xếp. Hoàn thành tuyệt tác Truyện Kiều, ngoài việc chọn lựa và sắp xếp các tình tiết, thi hào Nguyễn Du còn có ý thức chọn lựa từ ngữ một cách tinh xác, sắp xếp từ ngữ một cách hòa hợp, để lại cho hậu thế bài học sinh động về nghệ thuật dùng từ mà chúng ta có thể lãnh hội qua việc tìm hiểu một số trường hợp tiêu biểu dưới đây.

1.
Thông thường, khi nói hay viết, chúng ta có thể tìm được một từ có nghĩa thích ứng để thể hiện một tình ý nào đó. Nhưng cũng có trường hợp nhiều từ đã lần lượt xuất hiện nhưng chúng ta vẫn chưa tìm được từ chính xác để diễn đạt đúng điều muốn nói. Trong trường hợp này, vấn đề tìm kiếm và chọn lựa từ ngữ được đặt ra và nhà văn, nhà thơ có thực tài sẽ chọn được một từ tinh xác là từ không thể thay thế bằng bất kỳ từ nào khác. Dưới đây là một dẫn chứng về nghệ thuật dùng từ tinh xác của tác giả Truyện Kiều.

Sau khi ra khỏi lầu xanh, Kiều khuyên Thúc Sinh về quê Vô Tích kể rõ sự tình với vợ cả là Hoạn Thư để xin cho nàng được làm lẽ. Về đến nhà, lầm tưởng vợ cả chưa hay biết gì, Thúc Sinh nhút nhát không dám nói ra sự thật, làm cho Hoạn Thư căm giận tính kế trả thù. Trong lúc Thúc Sinh trở lại Lâm Tri bằng đường bộ, Hoạn Thư sai bọn Khuyển Ưng đi tắt bằng đường thủy, đến đốt nhà Kiều, lấy một thây vô chủ ném vào lửa làm cho mọi người lầm tưởng nàng đã chết cháy, còn Kiều thì bị chúng bỏ thuốc mê và bắt về nhà để Hoạn Thư hành hạ như một đứa tôi đòi. Về thăm quê lần sau, Thúc Sinh vô cùng ngạc nhiên và đau khổ khi biết Kiều còn sống và đã trở thành đứa đầy tớ ở trong nhà. Một tiệc tẩy trần được mở ra và Kiều là gia nô tên Hoa đứng hầu rượu, để Hoạn Thư "Bắt khoan bắt nhặt đến lời / Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay." Chứng kiến thảm cảnh ấy, Thúc Sinh giả say, muốn ngừng tiệc rượu để cứu người tình. Biết rõ ý đồ của chồng, Hoạn Thư " vội thét con Hoa / Khuyên chàng chẳng đặng thì ta cho đòn!". Vì thế, Kiều phải tiếp tục hầu rượu, Thúc Sinh phải uống để cứu người yêu thoát khỏi một trận đòn ghen. Ở văn cảnh này, Nguyễn Du viết :

"Sinh càng nát ruột tan hồn .
Chén mời phải ngậm bồ hòn ( ... ) ngay!"

Chúng ta thử tìm từ để điền vào chỗ trống ở cuối câu bát. Từ thứ nhất có thể là "uống". Nếu Thúc Sinh "uống ngay" mà chỉ nâng chén lên môi, miễm cưỡng nhắp một ngụm rượu rồi vội vàng đặt xuống thì "quan tòa" Hoạn Thư sẽ "luận tội" "con Hoa" mời rượu không đạt yêu cầu để nhân đó mà đánh một trận cho thỏa cơn ghen. Từ thứ hai có thể là "hết". Thúc Sinh "hết ngay" chén rượu thì Hoạn Thư không còn lý do để bạo hành Kiều, nhưng "hết ngay" không những thích hợp với uống, với ăn mà còn được dùng để chỉ nhiều hoạt động khác. Từ thứ ba có thể thay thế là "cạn". "Cạn ngay" là từ chính xác, thích hợp với việc uống rượu và đồng thời ngăn chặn Hoạn Thư kiếm cớ "cho đòn" Thúy Kiều. Thế nhưng thi hào Nguyễn Du không dùng từ "cạn" mà dùng từ "ráo":

"Sinh cáng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay."

Nếu đoạn này được dựng thành phim thì ban đầu chúng ta thấy Thúc Sinh uể oải đưa lên, để xuống nhiều lần mà vẫn không uống hết một chén rượu Thúy Kiều mời. Đến khi nghe bà chủ hăm dọa trừng trị nô tỳ về tội không hết lòng phục vụ ông chủ, Thúc Sinh vội vàng, hoảng hốt tiếp nhận chén rượu ở tay người yêu rồi dốc ngược lên mà "nốc" một hơi, làm cho chúng ta có cảm tưởng như trong chén say không còn một giọt chất lỏng có hương nồng mà nay chỉ còn đọng lại vị đắng cay. Phải dùng "ráo ngay" thay cho "cạn ngay" mới lột tả được cái tâm lý, cái tính cách của một nhân vật Thúc Sinh tầm thường, hèn nhát, sợ vợ. "Ráo ngay" là từ tinh xác không thể thay thế bằng bất kỳ từ nào khác, nó mãi mãi tồn tại ở đó, vững vàng như bia đá, tượng đồng để lưu lại cho đời sau dấu ấn tài năng của thi hào Nguyễn Du.

2.
Sự hòa hợp tạo nên cái đẹp của đời sống và nghệ thuật. Hòa hợp của màu sắc, như màu hồng xuất hiện bên cạnh màu lam, tạo ra vẻ đẹp của y phục. Hòa hợp của âm thanh, như các nốt Fa, La, Ré của gam Ré trưởng được ngân lên cùng một lần, làm thành giai điệu của bài ca. Cũng vậy, khi chúng ta sáng tác thơ văn, những từ có chung trường nghĩa xuất hiện bên cạnh nhau sẽ hô ứng với nhau để tạo thành cái hay của nghệ thuật dùng từ. Dưới đây là một vài ví dụ trích dẫn từ Truyện Kiều.

Vào đêm tối nàng Kiều bạo dạn vượt qua "nẻo thông mới rào" để gặp chàng Kim, Nguyễn Du viết :

"Xắn tay mở khóa Động Đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai."

Nếu muốn diễn đạt có phần chính xác và gần với hiện thực hơn thì tác giả Truyện Kiều phải viết :

"Xắn tay mở khóa Động Đào,
Rẽ cây trông tỏ lối vào Thiên Thai."

Nhưng vì lẽ cuối câu lục đã có "Động Đào" và cuối câu bát đã có "Thiên Thai", cho nên Nguyễn Du đã dùng từ "mây" thay vì dùng từ "cây" để thần tiên hóa trọn vẹn cái giây phúp gặp gỡ ban đầu của hai tâm hồn đồng điệu. Ba từ cùng trường nghĩa là "Động Đào", "mây","Thiên Thai" đã hòa hợp với nhau để chuyển tải đến độc giả biết bao điều đáng nói về người yêu và tình yêu, về cái đẹp của mối tình đầu, về tấm lòng nhân đạo rộng mở và trí tuệ siêu việt thời đại của thi hào Nguyễn Du.

Diễn tả ý nghĩ đen tối của Mã Giám Sinh sau khi mua được Thúy Kiều, Nguyễn Du viết :

"Đào tiên đã bén tay phàm,
Thì vin cành quýt cho cam sự đời."

Qua cụm từ "vin cành quýt", người đọc có thể đoán trước hành động xấu xa, tội lỗi của Mã Giám Sinh khi đã có giai nhân Thúy Kiều trong vòng tay. Nhưng đọc hai câu thơ này, những ai quá chú trọng việc tham khảo sử sách mà ít quan tâm nghệ thuật dùng từ có thể mất công tra cứu để tìm hiểu cho rõ ràng hơn ý nghĩa của "điển tích" "vin cành quýt". Thật ra, đây chỉ là một trường hợp dùng từ có ý nghĩa hòa hợp của tác giả Truyện Kiều. "Đào tiên" đã xuất hiện ở đầu câu lục để ám chỉ Thúy Kiều, "cam" đồng âm với tên gọi một thứ trái cây khác đã có mặt trong cụm từ "cam sự đời" ở cuối câu bát, vậy thì Nguyễn Du còn ngần ngại gì mà không hạ một từ "quýt" để ba từ có chung trường nghĩa là "đào", "quýt", "cam" vốn đã được dùng đi dùng lại nhiều lần đã trở nên mòn và cũ, nay được gặp gỡ, hô ứng với nhau mà trở nên mới mẻ, đẹp đẽ, như những người bạn xa cách lâu ngày được hội ngộ, gương mặt mỗi người như trẻ lại vì rạng rỡ niềm vui.

Xin được nói thêm rằng dùng từ hòa hợp là một cách chơi chữ thường gặp ở nhiều cây bút cổ điển cũng như hiện đại. Nhà thơ cũ Nguyễn Khuyến viết câu đối giúp người vợ khóc chồng là thợ nhuộm vừa qua đời : "Thiếp từ ngày chỉ thắm xe duyên, lúc vận tía, lúc cơn đen, điều dại, điều khôn nhờ bố đỏ / Chàng ở dưới suối vàng có biết, vợ má hồng con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh." Nhà thơ mới Thâm Tâm thể hiện nỗi xúc động trong lòng người biệt ly bằng hai câu thơ: "Đưa người ta không đưa sang sông / Sao có tiếng sóng ở trong lòng?" Trong hai câu văn biền ngẫu, nhiều tính từ chỉ màu sắc đã được Tam Nguyên Yên Đỗ chọn lựa thích ứng với nghề nhuộm, rồi sắp xếp cân đối , hài hòa với nhau một cách thật là tài tình ! Trong hai câu thơ mới, tác giả Tống biệt hành đã có ý thức khi dùng từ "sóng" ở câu thứ hai để hòa hợp ý nghĩa với từ "sông"ở câu thứ nhất. Trong cả hai ví dụ, những từ quen thuộc đã được sử dụng nhiều lần để trở nên sáo mòn và chết như cỏ khô củi mục ấy, bây giờ được họp mặt, hòa hợp với nhau để sống cuộc đời mới, như muốn kêu giòn và tỏa hương.

3.
Bên cạnh một số từ đồng nghĩa toàn thể có thể thay thế cho nhau, Việt ngữ còn có những từ đồng nghĩa bộ phận chỉ có một phần nghĩa chung giống nhau, phần nghĩa riêng khác nhau còn lại , ngôn ngữ học gọi là nét khu biệt trong ngữ nghĩa. Nghệ thuật dùng từ tinh xác đòi hỏi người viết phải nhận rõ nét khu biệt ngữ nghĩa ấy, để không lẫn lộn từ này với từ kia, để dùng đúng trong từng trường hợp. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã cho chúng ta nhiều bài học về cách dùng từ tinh xác này. Ngoài ra, tác giả còn bổ sung cách dùng từ hòa hợp để làm rõ nét khu biệt ngữ nghĩa.

Truyện KiềuĐoạn trường tân thanh . Vì là tiếng kêu thương đứt ruột nên trừ Từ Hải, những nhân vật chính diện của Truyện Kiều đều khóc, trong số đó, Kiều là người khóc nhiều nhất. Tâm trạng của Thúy Kiều trong những lần than khóc không giống nhau. Cho nên, vấn đề đặt ra cho Nguyễn Du là ngoài từ "nước mắt", phải nhận rõ và sử dụng đúng nét khu biệt ngữ nghĩa của những từ đồng nghĩa bộ phận để diễn ý chính xác. Dưới đây là bốn dẫn chứng tiêu biểu.

Lần thứ nhất Kiều khóc Đạm Tiên. Lần than khóc này đã biểu hiện bản tính đa sầu đa cảm của nàng . Cho nên, những giọt "nước mắt" mà Kiều đã đổ xuống phận bạc Đạm Tiên là không có giá trị. Cô em gái Thúy Vân cũng không thể cảm thông với chị :

"Vân rằng chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa."

Đây là lần đầu tiên Nguyễn Du dùng từ "nước mắt", một thứ chất lỏng "", thừa, nhiều như "nước mưa", "nước sông", "nước suối".

Lần thứ hai Kiều khóc số phận bi thương sau khi quyết định dứt tình Kim Trọng để bán mình chuộc cha và em. Tất cả chúng ta đều cảm thông nỗi khổ đau của Thúy Kiều và quý trọng những giọt nước mắt mà nàng đã nhỏ xuống:

"Một mình nàng ngọn đèn khuya,
Áo đầm giọt lệ tóc xe mái sầu."

Ở đây, "nước mắt" dư thừa đã được thay thế bằng "giọt lệ" ít ỏi và quý hiếm. Khác với "nước mắt" là từ thuần Việt, "lệ" là từ Hán Việt trang trọng, biểu đạt được giá trị giọt nước mắt của Thúy Kiều trong cái đêm không ngủ vì ngày mai phải chia lìa tất cả người thân để theo Mã Giám Sinh về nơi vô định.

Lần thứ ba Kiều khóc Từ Hải. Người ta thường nói đến mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều. Tuy nhiên, trong thời gian ấy, năm năm chung sống với Từ là những ngày tháng hạnh phúc vô cùng mà không phải người con gái tài sắc nào cũng có được. Từ là sức mạnh để Kiều nương tựa vào đó mà đương đầu với cuộc đời và số phận. Từ là người tình lý tưởng, đã yêu thì không được làm khổ người yêu mà phải làm mọi cách để người yêu được hạnh phúc, cho dù phải hi sinh cả cuộc đời tự do, vẫy vùng ngang dọc. Cho nên, khi Từ Hải nghe lời Kiều, mắc mưu gian của Hồ Tôn Hiến mà chết đứng giữa đám loạn quân, nàng khóc than thảm thiết là điều dễ hiểu. Cảm thông nỗi khổ đau cùng cực của Thúy Kiều, chúng ta muốn nàng khóc thật nhiều, khóc như mưa như gió . Nguyễn Du đã thể hiện ý ấy một cách hàm súc và sinh động :

"Dòng thu như xối cơn sầu,
Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên."

"Dòng thu" là nước mắt mùa thu chảy thành suối, thành sông nhiều vô kể. Để tẩy rửa oan khốc và uất hận, những giọt nước mắt của Thúy Kiều lúc này không "", không "đầm" mà "xối" ào ạt. Sau "trận" khóc "bão táp" ấy, Thúy Kiều đã gục xuống như muốn được chết cùng Từ Hải.

Lần thứ tư Kiều khóc đoàn viên. Sau khi tự trầm trên sông Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu vớt, dù ở lứa tuổi ba mươi, nhưng Thúy Kiều nghĩ số phận của mình đã được an bài "trong thảo lư", với "muối dưa chay lòng." Còn Kim Trọng và những người thân trong gia đình, sau nhiều ngày ra sức tìm kiếm, lầm tưởng Kiều đã chết nên "lập một đàng tràng bên sông" để giải oan. Được sư Giác Duyên cứu giúp, Thúy Kiều gặp lại cha mẹ, hai em cùng với "chàng Kim đó là người ngày xưa". Với nàng Kiều ở thời điểm này, không riêng gì chàng Kim mà tất cả thân nhân đều đã là "người xưa" xa cách nghìn trùng như hai thế giới âm dương đời đời cách biệt. Vậy mà trong một phút giây mầu nhiệm, tất cả đã được đoàn tụ để chung sống sum vầy. Khi niềm vui trào dâng đến cực điểm thì người ta không thể cười mà chỉ có thể khóc. Chúng ta có thể hình dung trên gương mặt tươi như hoa của nàng Kiều lúc ấy, thỉnh thoảng hiện ra một giọt nước mắt trong veo, lăn trên gò má rồi rơi xuống và thấm vào áo. Giọt nước mắt của Thúy Kiều ở ba lần trước đều có nhiều đắng cay và bi lụy, nhưng riêng trong lần này lại có vị ngọt của hạnh phúc tuyệt vời. Nguyễn Du thể hiện tài năng khi tìm được từ thích đáng để gọi đúng tên giọt nước mắt tràn đầy niềm vui đoàn tụ ấy:

"Giọt châu thánh thót quẹn bào,
Mừng mừng tủi tủi biết bao là tình."

Đến đây, giọt nước mắt đã trở thành "Giọt châu"."Giọt châu" này không "", không "đầm", không "xối" mà rơi "thánh thót" như một "giọt đàn". Trong một đời, may mắn lắm người ta mới có một lần được khóc bằng những "giọt ngọc" của trần gian ấy.

Nguyễn Du rất khiêm tốn khi kết thúc Truyện Kiều bằng hai câu thơ:

"Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh."

Tuy nhiên, với những thành tựu rực rỡ về nghệ thuật mà cách dùng từ đúng và hay là một biểu hiện sinh động, không phải "một vài trống canh" mà hàng trăm năm nay, "lời quê" của thi hào Nguyễn Du là lời châu ngọc, là hàng gấm thêu đã lay động trái tim của hàng triệu độc giả Việt Nam thuộc nhiều giai tầng và thế hệ. Văn chương Truyện Kiều giúp chúng ta nhận ra cái hay cái đẹp của tiếng nói dân tộc, từ đó vun đắp tình yêu đất nước và con người Việt Nam.

Hà Thúc Hoan
Sài Gòn, 20.8.11
  
Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất