Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • CD4 1200
  • hinhCu 1200
  • DaiThinhDuong1200

LTS. Bài này đã đăng trên trang web của Đại Học Huế (thiếu phần chú thích). Cuongde.org xin chân thành cám ơn Thầy Hoan đã cho phép đăng lại ở đây.

Viện đại học Huế khai giảng khóa đầu tiên vào mùa thu năm 1957, đã mở ra một chân trời cao rộng cần thiết cho sự bay nhảy của những học sinh nghèo mà hiếu học ở Thừa Thiên - Huế và các tỉnh miền Trung. Tác giả bài này được đào tạo tại Đại học Huế trong bốn năm, sau đó là mười bốn năm làm giảng viên ở Đại học Sư phạm Huế. Nhân Lễ kỉ niệm năm mươi năm thành lập và phát triển Đại học Huế, chúng tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn trường xưa, tưởng nhớ thầy và bạn cũ, đồng thời trao đổi với các bạn đọc ngày nay một ít thông tin về thi cử, học tập, giảng dạy và nghiên cứu ở Đại học Huế trong những năm trước và sau ngày đất nước thống nhất.

 

Năm 1959, đỗ tú tài toán nhưng có sở thích văn chương, chúng tôi chọn ban Việt Hán để thi vào Đại học Sư phạm Huế và phải giải đáp một đề bài thuộc loại " trên trời rơi xuống". Đề yêu cầu bình giảng bài hát nói Vịnh Hàn Tín của Nguyễn Công Trứ, một tác phẩm mà hầu hết học sinh trung học đều chưa từng được nghe, được đọc một lần trong đời. Khách quan mà nói thì đề thi ấy rất thích hợp với việc tuyển chọn các sinh viên vào học ban Việt Hán của Đại học Sư phạm, vì bài thơ trích dẫn có nhiều từ, câu và điển tích Hán Việt :

 

"So tam kiệt ai bằng Hàn Tín,
Một tay thu muôn dặm nước non.
Những ngỡ rằng khoán thiết thư son,
Thái Sơn như lệ, Hoàng Hà như đái.
Hợp tảo ngũ hồ song Phạm Lãi,
Khước giao tam kiệt độc Trương Lương.
Đau đớn thay điểu tận cung tàng,
Đầm Vân Mộng phải mắc mưu con trẻ!
Nếu biết chữ khả hành khả chỉ,
Thì năm hồ một lá cho xong.
Làm chi lúng túng trong vòng."

Bi kịch cuộc đời của Hàn Tín được thể hiện qua thành ngữ Hán Việt "điểu tận cung tàng" (1) nói về sự vong ân bội nghĩa của Hán Cao Tổ là Lưu Bang. Vì mất bình tĩnh và thiếu cẩn thận, cậu học sinh vừa bước ra khỏi trường trung học là chúng tôi ngày ấy đã nhầm lẫn "cung tàng" với "cung tàn" để nói nhiều về " tàn quân" của một nguyên soái Hàn Tín bại trận. Xưa nay, ở chốn trường thi, có khi lẫn lộn một chữ cũng có thể tạo nên bi kịch của cuộc đời sĩ tử . Trong danh sách bảy thí sinh trúng tuyển ban Việt Hán năm ấy không có tên người bài viết này và đó là lần đầu tiên trong đời chúng tôi được nếm trải "đệ nhất buồn là cái hỏng thi" của Tú Xương.

Lần hỏng thi năm ấy đã cho chúng tôi cơ hội xét lại cái sở thích văn chương của mình rồi quyết định trở lại với toán bằng cách ghi danh học lấy chứng chỉ Toán học đại cương. Toán học ở đại học quá khó đối với những người không có năng khiếu! Học môn Giải tích với Thầy Nguyễn Văn Trường và môn Tân đại số với Thầy Nguyễn Văn Hai, chúng tôi phải gắng sức đến mất ăn, mất ngủ. Để đầu óc bớt căng thẳng, chúng tôi làm đơn xin học dự thính ở lớp Dự bị văn khoa.(2) Dù ghi danh trễ hơn hai tháng nhưng may mắn được Giám đốc ban văn khoa và sinh ngữ lúc ấy là Thầy Lê Tuyên cho học chính thức để có điều kiện dự thi, chúng tôi đã đỗ chứng chỉ Dự bị văn khoa với thứ hạng rất cao vào cuối niên khóa. Thấy học văn có kết quả khả quan hơn học toán, vào năm 1960, chúng tôi nộp đơn xin thi vào ban Việt Hán một lần nữa. Lại gặp phải một đề thi "trên trời rơi xuống", nhưng lần này số phận đã mỉm cười với người bình thơ. Chúng tôi và một người bạn là hai thí sinh trúng tuyển trong kì thi ấy. Để có đủ số sinh viên tối thiểu cho một lớp, nhà trường tổ chức kì thi tuyển lần hai và lấy thêm sáu người nữa.

Các môn học của sinh viên sư phạm ngày ấy không quá nhiều như bây giờ. Về Việt văn, chúng tôi học văn học sử, các văn loại và một số tác giả. Đây là phần chính yếu. Vì nghĩ rằng các tác giả cận đại và hiện đại đã được sinh viên học ở trường phổ thông hoặc tìm đọc qua sách báo, thầy Lê Hữu Mục dạy văn học sử chỉ giảng những tác phẩm cổ như Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái, thơ văn và cuộc đời các thiền sư hai triều đại Lí Trần, v.v...Thầy Lê Tuyên dạy văn loại và các tác giả thì thuyết giảng những khảo luận về thi ca, tiểu thuyết và kịch, hoặc trình bày những điều tâm đắc về Bạch Viên Tôn Các, Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, Đoạn tuyệt , Hồn bướm mơ tiên v.v... Về Hán văn, chúng tôi được học nhiều giờ với Linh mục Nguyễn Văn Thích và Tiến sĩ Hán học Nguyễn Huy Nhu.(3) Ngoài ra, sinh viên Việt Hán còn được học thêm một ít giờ Pháp văn và Tâm lí sư phạm.

Một khó khăn của sinh viên ngày ấy là hầu hết các môn học đều không có giáo trình . Bài giảng của Thầy mà chúng tôi ghi tại lớp thì câu được câu mất. Bù đắp vào đó, sinh viên vào thư viện tìm đọc các sách báo có nội dung gần gũi với bài giảng, hoặc đến Đại học Văn khoa ghi danh học thêm các chứng chỉ Văn chương Việt Nam, Ngữ học Việt Nam, Hán văn , Lịch sử triết học,v,v... để mở rộng kiến thức. Tại Đại học Văn khoa, chúng tôi thường được học với các giáo sư thỉnh giảng có danh tiếng ở Sài Gòn . Trong học tập, khó khăn một khi đã được vượt qua thì sẽ trở thành thuận lợi. Thuận lợi của chúng tôi ngày ấy là thói quen đọc sách, là phương pháp tự học để khi ra trường có thể làm việc độc lập và đứng vững trên bục giảng.

Lớp Việt Hán khóa IV ngày ấy chỉ có tám người. Thế mà lên năm thứ ba, sau kì thi mãn khoá, một bạn không may phải ở lại lớp. Bảy người may mắn còn lại được chọn nhiệm sở theo thứ tự ưu tiên là vị trí cao thấp đạt được trong kì thi tốt nghiệp. Nguyễn Mộng Giác (4) đỗ đầu ban chọn trường Đồng Khánh - Huế, đến lượt chúng tôi chọn trường Cường Để - Qui Nhơn, còn Dương Ngọc Tạo về trường Trần Quý Cáp - Hội An và Anh Lê Vàng đến trường Trần Cao Vân ở Thị xã Tam Kì ,v.v...Nhờ được chọn lọc kĩ ở đầu vào và đầu ra, bảy sinh viên lớp Việt Hán ra trường năm ấy đều hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy. Riêng bốn người mà chúng tôi vừa nhắc đến ở trên thì ngay từ những năm đầu đã gặt hái nhiều thành quả để thực hiện lời hứa mà hơn năm mươi sinh viên Đại học Sư phạm khóa Nguyễn Du đã khắc ghi vào lòng khi dự Lễ tốt nghiệp :

" Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời."

( Nguyễn Du , Truyện Kiều )

Năm 1965, sau hai năm dạy học ở Qui Nhơn, chúng tôi nộp đơn xin hoán chuyển cùng Nguyễn Mộng Giác để trở về dạy Việt văn ở trường Đồng Khánh - Huế . Thời sinh viên hai đứa đã có lần đạp xe ngang qua ngôi trường này vào một sáng mùa thu, nhìn những chiếc áo len đủ màu nổi bật trên cùng một cái nền là màu áo trắng của những nữ sinh đang dạo chơi trong sân trường hoặc ngoài vườn hoa dọc theo bờ sông Hương, bạn đã buột miệng nói câu : Hai đứa mình đang đi vào vườn Địa Đàng. Như hai chàng Lưu Nguyễn ngày xưa, những năm tháng ở Thiên Thai của chúng tôi cũng không được lâu. Nguyễn Mộng Giác rời Đồng Khánh sau hai năm. Còn chúng tôi, sau năm năm dạy Việt văn ở đó, cũng đã xin chuyển công tác về Đại học Sư phạm Huế theo sư khuyến khích của Anh Đoàn Khoách.(5)

Năm 1970, trở thành giảng viên ban Việt Hán Đại học Sư phạm, chúng tôi được phân công giảng dạy một bộ môn mới là Luận văn để rèn luyện kĩ năng hành văn cho sinh viên năm thứ nhất. Môn này khó dạy vì nội dung gần với kiến thức phổ thông, tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt thì chỉ có một cuốn sách có thể dùng được là Luận văn thị phạm của Nghiêm Toản. Tuy nhiên, với hai giờ lên lớp mỗi tuần, " tự biên và tự diễn" bằng kiến thức và kinh nghiệm có được ở trung học, chúng tôi đã vượt qua được thử thách ban đầu để từng bước khẳng định vị trí không thể thiếu của môn Luận văn ở Đại học Sư phạm. Bằng chứng là sau năm 1975, qua một đợt sàng lọc, với tên gọi mới là Làm văn, môn Luận văn do chúng tôi phụ trách từ năm năm về trước vẫn được tiếp tục giảng dạy ở khoa ngữ văn Đại học Sư phạm.

Có thể nói rằng Đại học Huế trước ngày thống nhất đã có một chương trình học tập và giảng dạy khá cởi mở. Hội đồng giáo sư của khoa sư phạm có thể quyết định thêm hay bớt một môn học hay một môn thi với mục đích nâng cao chất lượng của sinh viên. Việc đưa môn Luận văn vào giảng dạy ở ban Việt Hán vừa nói ở trên là một bằng chứng. Một dẫn chứng khác có thể nêu ra là khoảng năm 1973, tất cả sinh viên dự thi vào Đại học Sư phạm Huế, dù học ngành khoa học tự nhiên hay khoa học nhân văn, đều phải viết một bài nghị luận bằng tiếng Việt để nhà trường thẩm định khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ của những nhà giáo tương lai. Theo ý kiến của khoa trưởng lúc ấy là TS Nguyễn Đức Kiên, câu "Trường học là mái nhà thứ hai" đã được lấy làm đề thi nhập học năm ấy để tìm hiểu ý thức nghề nghiệp của những nam nữ thanh niên muốn trở thành nhà mô phạm.

Đại học đích thực phải là một trung tâm nghiên cứu và dạy đại học đúng nghĩa là dạy những gì mà giảng viên đã nghiên cứu. Như đã nói ở trên, giảng viên đại học chỉ nên trình bày ở giảng đường những gì mà mình đã tìm tòi và thấy tâm đắc. Những kiến thức còn lại, hãy để cho sinh viên đọc sách ở thư viện.

Năm năm đầu giảng dạy ở Đại học Sư phạm, chúng tôi chưa có một công trình nghiên cứu nào đáng kể ngoài cuốn "Triết văn I" dành cho học sinh lớp 12. Từ năm 1975, dù cuộc sống còn bề bộn khó khăn, nhiều hội nghị khoa học đã được tổ chức liên tục ở Đại học Sư phạm Huế . TS Nguyễn Văn Hạnh - Trưởng ban điều hành của Đại học Huế sau ngày hòa bình - đã động viên chúng tôi làm khoa học bằng một câu nói đầy khích lệ : Hãy phát huy những mặt mạnh của anh em ở miền Nam. Dù bận rộn nhiều việc , GS Nguyễn Văn Hạnh vẫn dành thì giờ để cùng chúng tôi xét lại chương trình môn Làm văn dạy ở Đại học Sư phạm. Bốn năm sau đó, năm 1979, trong một lần đưa sinh viên đi thực tập ở trường Trần Quý Cáp - Hội An, chúng tôi đã phát hiện chỗ bất hợp lí của giáo án dạy về đoạn văn ở trường phổ thông : Nhiều thầy, cô giáo trên cả nước đang dạy học sinh thực hành dựng đoạn trên cơ sở lí thuyết về câu đơn và câu ghép! Vậy là trường phổ thông đang thiếu một lí thuyết về đoạn để hướng dẫn học sinh thực hành xây dựng đoạn. Từ đó, chúng tôi tìm đọc lí thuyết về dựng đoạn trong sách ngoại ngữ để từng bước hoàn thành công trình nghiên cứu về liên kết câu và dựng đoạn. Chúng tôi ghi nhận ở đây sự hỗ trợ của các bạn đồng nghiệp trong khoa ngữ văn Đại học Sư phạm Huế mà tích cực nhất là Anh Nguyễn Tri Niên, tổ trưởng tổ ngôn ngữ lúc ấy. Nhờ sự giúp đỡ của các bạn mà bài báo cáo về cấu trúc đoạn của chúng tôi đã được hoan nghênh tại nhiều hội nghị khoa học được tổ chức ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam thống nhất. Năm 1982, tại hội nghị về dạy tiếng Việt trong nhà trường do Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức, trong bài tổng kết, GS Đỗ Hữu Châu đã đánh giá rất cao tính khoa học của bài báo cáo về đoạn văn của chúng tôi. Từ đó cho đến nay, kết quả hoạt động giảng dạy và nghiên cứu trong nhiều năm qua đã được in thành sách Tiếng Việt thực hành (6) và Làm văn nghị luận (7).

Như đã xác định từ đầu, bài viết này chỉ ghi lại những kỉ niệm về thi cử, học tập, giảng dạy và nghiên cứu trong một giai đoạn của Đại học Huế. Kỉ niệm thường mang dấu ấn của cá nhân, có thể phiến diện, chủ quan và khó tránh thiếu sót. Nhưng kỉ niệm thì bao giờ cũng đẹp. Có những kỉ niệm tưởng như đã bị chôn vùi dưới nhiều lớp bụi của thời gian. Nhưng đến một sớm mai, Lễ kỉ niệm nửa thế kỉ thành lập và phát triển Đại học Huế như một ngọn gió mát lành thổi tới làm bay lớp bụi, đem đến sinh khí để những hình ảnh, màu sắc và âm thanh của những ngày tháng cũ sống lại, như " cục than hồng âm ỉ dưới lớp tro tàn được thổi bùng lên thành ngọn lửa sưởi ấm trái tim người "(8).


Hà Thúc Hoan
TP.HCM, ngày 7 tháng 11 năm 2006

--------------------------
(1)  Chim hết thì cung bị bỏ xó, đồng nghĩa với câu “ Được chim bẻ ná, được cá quên nơm”.
(2) Trước năm 1975, để có đủ điều kiện theo học các môn chuyên ngành, sinh viên các lớp thuộc khoa học nhân văn phải học chung để thi lấy chứng chỉ Dự bị văn khoa.
(3) GS Nguyễn Huy Nhu ( 1886-1961) người xã Vạn Lộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, đỗ Cử nhân khoa Kỉ dậu (1909), đỗ Tiến sĩ khoa Bính thìn (1916), sung chức Giáo thụ và suốt đời ở trong ngành giáo dục.
(4) Nhà văn Việt kiều Nguyễn Mộng Giác là tác giả trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ  tập I và II , Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003 .
(5) Anh Đoàn Khoách là người đỗ đầu ban Việt Hán khóa I , đồng thời là thủ khoa khóa Nguyễn Trãi ( 1957 – 1960 ) của ĐHSP Huế .   
(6) Tiếng Việt thực hành , tái bản lần thứ 9, NXB TP.HCM, TP. HCM, 2003.
(7) Làm văn nghị luận, lí thuyết và thực hành, NXB Thuận Hóa & CTY Văn hóa Phương Nam, TP. HCM, 2006.
(8) Mượn cách diễn đạt bằng hình tượng của GSTS Trần Văn Khê.

Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất