Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200
  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200

Dịch từ "Saigon, soul city" nguyên tác của Graham Reilly

Lời dẫn nhập: Từ thuở nhỏ, tôi đã "lang bạt" từ thành phố này đến thành phố khác dọc miền trung đất hẹp, vùng đất bị ép giữa núi và biển. Nói lang bạt là nói dóc cho vui thôi, bởi bố tôi là lính, mỗi khi bố phải chuyển đơn vị, gia đình lại khăn gói bồng bế đi theo. Và tôi đã qua nhiều sông nhiều phố gần như cùng bằng một cách thế như vậy, từ khi còn được ẵm ngữa, cho đến khi tự biết đi trên đôi chân của mình.

Ở dọc những thành phố miền trung ấy, đất hẹp nên phố cũng hẹp. Phố gầy như thân thể một cô thiếu nữ mới lớn chưa phát triển đầy đủ ? Dĩ nhiên đó là ấn tượng rất chủ quan của tôi mỗi khi hồi tưởng lại những thành phố tôi đã sống qua thời thơ ấu. Nào là Qui Nhơn, Tuy Hòa, Kontum, Quảng Trị, Huế, Hội An, Đà Nẵng. Ngoài Kontum, những thành phố còn lại đều nằm cạnh biển. Chỉ bước vài bước là thấy biển thấy sóng. Và chẳng hạn như ở Tuy Hòa, nhà tôi ngó thẳng ra biển.

Căn nhà của gia đình khi ở Qui Nhơn nằm trên đường Hoàng Diệu, tôi không nhớ số, chỉ nhớ nó là căn thứ hai tính từ đường Phan Bội Châu. Bước qua đường Phan Bội Châu là chợ. Mỗi ngày đi học, tôi chỉ phải đi bộ dọc con đường Hoàng Diệu, đụng đường Gia Long, quẹo trái là đến ngay cửa trường. Đường Gia Long thuở ấy có những căn nhà rất cũ, xây từ những năm 1880. Và tôi muốn viết về ký ức của tôi với một trong những căn nhà cổ như thế ở Qui Nhơn, ở An Túc, hay ở Hoài Nhơn . . . Nhưng rồi gặp phải một bài viết về Sàigòn của một tác giả tây phương. Tôi đọc và bị cuốn hút theo những gì anh ta viết. Cầm lòng không đậu với những gì anh viết nên đành xin hẹn lại các bạn dịp khác vậy. Hôm nay thay vì viết, xin gửi đến các bạn bản dịch bài viết của anh ta. (Mai Xuân Vỹ)

*   *   *

Tôi ngồi ở cái bàn ưa thích của mình ở tiệm kem Bạch Đằng và tôi đang trông chờ “cậu ca sĩ” [1]. Tôi dõi mắt tìm trong cái đám hỗn loạn ở góc phố và những khách bộ hành nhưng bóng dáng của cậu ta -với cái dáng đi lăng ba vi bộ không lẫn vào đâu được, và tiếng xủng xoẻng của cái hộp đánh giày- vẫn biệt tăm.

Tôi nhấp từng ngụm cà phê đá và rửa mắt. Đây là lần thứ hai tôi đến Sàigòn. Rất ít người miền Nam gọi cái thành phố này là H. C. M.. Lần trước đó tôi đã ở trong cái thành phố đầy sức sống và lớn nhất Việt Nam này gần ba năm, với cái nóng hầm hập khoẻ mạnh, và cũng với cả cái nhức đầu điên loạn của nó nữa.

“Này này ! Đánh giầy không? Rẻ lắm. Một đô”, là câu nói đầu tiên “cậu ca sĩ” đã bảo tôi, trước khi cậu ta trở thành người quản lý tự phong của hai đôi giầy ủng Brogues và Blundstone của tôi.

Điểm trước hết tôi chú ý ở cậu là đôi giầy cậu mang. Trong khi cái áo thun và cái quần sọt của cậu thiếu điều là dẻ rách, đôi chân của câu lại ngạo nghễ một đôi giầy Winklepickers mầu đen đẹp nhất mà tôi đã từng thấy qua. Dài, thanh mảnh và hơi nguy hiểm, đôi giầy óng ánh sáng như sông Sàigòn trong một đêm trăng rằm.

Cậu ta bảo tôi đôi giầy ấy là tất cả những gì cha cậu đã để lại cho cậu và gia đình. Hằng đêm, trong căn phòng cậu ngủ chung với các trẻ khác, cậu luôn ôm chặt lấy nó mà ngủ. Chứ không nó đã biến mất tăm sáng sớm hôm sau thức dậy.

Ngồi dựa ra sau ghế và ngắm cái thế giới vùn vụt qua ở cái góc phố Pasteur và Lê Lợi, nơi mà luôn luôn là giờ cao điểm của cái thành phố ngót 7 triệu người, cộng với non nửa số ấy xe máy. Một nguời bán rong đi ngang bắt gặp ánh mắt của tôi và gạ bán một cặp kiếng mát Ray Ban mà cả hai chúng tôi đều biết là đồ dổm. Một bà già với cái sạp thuốc lá ở đầu đường ra dấu cho tôi với cái cười móm mém, tôi ra dấu cho bà hiểu là tôi không hút thuốc. Rồi bà ta cũng bán được cho tôi một gói xôi gói trong chiếc lá chuối.

Tôi có thể ngồi đây suốt ngày, và thực ra tôi đã hạnh phúc mà ngồi như thế rất nhiều lần trước đó, nhưng bây giờ tôi quyết định đi thăm lại các chỗ yêu thích của mình, những nơi đã góp phần tạo nên các yếu tố yêu đời trong cuộc sống hằng ngày của tôi ở đây.

Và thế là tôi lách mình qua cái góc của “trạm sửa xe” ở góc đường -một người đàn ông, với một cái chiếu dính đầy dầu nhớt, một ít kềm, mỏ lết cộng với hai cái bình nhựa đựng xăng – và quẹo phải xuống đường Lê Lợi– con phố chính của thành phố- rồi thẳng đến chợ Bến Thành.

“ Này này ! Đi đâu? Mình đi một vòng. Một đô thôi. Không sao”.

Tôi từ chối lời mời của các anh xích lô. Với xích lô, ta luôn luôn không tránh được cuối cùng phải trả nhiều hơn số tiền đã mặc cả. Và ngoài ra, ở trung tâm Sàigòn, tốt nhất là đi bộ. Ở các khu ngoài Sàigòn, chỗ nào cũng lộn xộn bừa bãi, nhưng ở quận I, mọi thứ đều đâu ra đó và thân mật một cách đáng ngạc nhiên.

Người Pháp đã chiếm Sàigòn năm 1859 và đã nhanh chóng xúc tiến một chương trình xây dựng thành phố với những đại lộ rộng có cây hai ven đường và một kiến trúc không thua gì Paris, và phần đông các kiến trúc ấy vẫn tồn tại đến bay giờ ở các quận nội thành. Nó có thể không tập trung bằng khu phố cũ ở Hà Nội nhưng một số các kiến trúc thuộc địa đẹp nhất của người Pháp có thể tìm thấy ở đây: Bưu Điện thành phố, tòa đô sảnh, nay là trụ sở HĐNDTP, nhà thờ Đức Bà, nhà hát lớn, khách sạn Majestic, toà án thành phố, và vô số quán tiệm dọc đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ và các chỗ khác trong thành phố.

Rất dễ hiểu tại sao người Pháp đã gọi Sàigòn là Hòn Ngọc Viễn Đông.

Thật vậy, di sản của các kiến trúc Pháp có thể tìm thấy ở khắp nơi trong thành phố, không cứ gì ở trung tâm. Ta cứ đi kiếm các biệt thự duyên dáng hay những toà nhà công cộng, thường là được ẩn dấu đằng sau một lớp sơn mới lòe loẹt.

Được xây vào năm 1914, chợ Bến Thành chiếm hẳn một block phố, và là nơi tập trung những nụ cười, những tiếng mời chào của bạn hàng rao bán đủ mọi thứ mà Việt Nam đã trồng, dệt, gieo, nấu; và nhiệt tâm chế biến để vi phạm tất cả các luật bản quyền quốc tế. Ngoài chợ, tôi thấy một chị cạo lông mặt với một con dao cạo kiểu cũ. Trong chợ, ánh sáng huyền ảo được lọc qua vòm nhà lồng là cả một sự thoái ẩn mát mẻ từ ngoài nắng nóng. Tôi ngừng lại, hít vào tất cả các tiếng động của đời sống chung quanh cái sân chơi rộn ràng mua bán kỳ kèo này vào trong lòng.

Tôi đã từng đến các chợ tương tự ở Lào, Cam Bốt nhưng chả có nơi nào bằng sự đa dạng của các món hàng bày bán, cộng vớI cái vui vẻ thân thiết của người bán như ở nơi này. Cho dù những phiền toái họ phải chịu đựng gần đây, ngươi Việt luôn luôn hiếu khách vui vẻ, luôn sẵn sàng để ăn mưng. Điều này đặc biệt chính xác ở miền nam, nơi quanh năm nắng tràn và tương đối xa sự kiểm soát của trung ương Hà Nội đã khiến người dân có cái nét độc lập và vui sống.

Có phải chính điều này đã khiến Sàigòn thành trái tim và linh hồn của Việt Nam ?

“Ông ơi ! Mua áo thun không ông? Hàng Calvin Klein trăm phần trăm. Áo Polo. Đẹp lắm của Mỹ!”, một chị hét vào tai tôi.

Đây là Mỹ Quốc. Chỉ ngay tại ven Sàigòn. Cái người chơi khúc côn cầu bé xíu trên ngực áo Polo như muốn rớt khỏi lưng ngựa, nhưng tôi vẫn mua cấp kỳ. Tôi vẫn thường mơ ước một cái áo Polo mầu hoàng yến. Và với giá 5 đô. Chả thể nào mà thua được.

Nín thở, bụng thóp lại, tôi chen qua các hàng chật như nêm bán đồ may, mây đan, hàng gốm xanh, nữ trang lấp lánh và kiếng mát rẻ đến mạt hạng.

Ở đây có đủ giày bán cho cả vùng Đông Nam Á. Tôi dừng ở một sạp bán trái cây -với các chị bán hàng ngồi xếp bằng dưới gạch bông, hoặc hoặc trên các cái ghế bệ cao đan bằng mây trông như các tượng phật trong chùa- và mua một trái thanh long.

Với cái vỏ mầu đỏ như quỉ dữ và những cái vẩy gai, nó trông như một thứ trái cây thời tiền sử, nhưng lại có cái vị hậu hiện đại. Là khách ngoại quốc, tôi phải trả tiền nhiều hơn người bản xứ cho những thứ này. Nhưng hề gì khi một đô đổi được bấy nhiêu là “đồng”. Tôi đã thấy nhiều du khách giận dữ cãi cọ với người bán nước dừa về số tiền nhỏ chỉ qui ra vài xu, rồi không khỏi nghĩ ngợi: chả biết là cái chuyện mặc cả này đã đi quá xa hay chăng?

Tôi không cưỡng được lời mời chào của một người bán hàng, và đã ngồi xuống cái ghế nhỏ như cái ghế con nít để ăn một tô phở bò. Đây là món quốc hồn quốc túy của Việt Nam. Phở là cái món gồm nước xúp thơm phức với bánh phở cộng thịt bò hay gà, hành, giá và rau thơm. Đây là món điểm tâm bắt đầu một ngày và cũng là phương thuốc trị váng đầu hiệu nghiệm nếu như bạn đã uống quá nhiều rượu từ tối hôm trước. Tôi đã tự nhắc mình phải nhớ ghé lại một tiệm phở ưa thích ở quận 3, Phở Hòa Pasteur.

Tôi bỏ hàng bán thịt, nơi mà các bà bán thịt hồ hởi cắt cổ gà và lột da ếch dễ như ta lột cái bao tay vắt lên bồn rửa chén vậy. Tôi vẫy tay chào và cười khi đi ngang những hàng bán hoa và ra khỏi chợ ở đường Lê Thánh Tôn. Đi dọc theo đường, mắt không ngừng ngước lên thưởng thức cái kiến trúc thuộc địa Pháp duyên dáng tô điểm cho những quán xá bên dưới, chúng như những vương miện trên những khuôn mặt biếng điểm trang. Luồn lách dọc lề đường, giữa các tiệm, người ăn xin và các sạp hàng, tôi đến tiệm may Dũng.

Một kich sĩ ở Melbourne Lê Hưng đã kể câu chuyện tiếu lâm về người Việt: làm sao bạn biết là tên trộm viếng nhà bạn hôm trước là người Việt? Trả lời: tên trộm đã tính toán từ trước để lấy cái máy may của bạn. Và thực vậy, nếu bạn muốn may áo quần ư? Việt Nam là đúng chỗ rồi đó. Bất cứ giờ nào trong ngày, bất cứ nơi đâu, luôn có người may cái gì đó đáng mặc. Ông Dũng chào tôi với nụ cười quen biết qua những bộ đồ tôi đã đặt may trước đây, và tôi đặt may một số sơ mi, mà chúng tôi thoả thuận với nhau sẽ đến lấy trong 5 ngày. Kinh nghiệm cho tôi biết tôi nên quay lại 6 hay 7 ngày sau. Chẳng cần phải nói, giá phải trả chỉ là một phần nhỏ cái số bạn trả ở Úc, và chất lượng thì hơn hẳn so với đồ bạn mua ờ Úc.

Tôi định bụng sẽ đến xem Viện Bảo Tàng Chiến Tranh - trưóc đây nó được biết đến với cái tên gọi không mấy tế nhị là Viện Bảo Tàng Tội Ác Mỹ Ngụy - để tự nhắc nhở những năm nhọc nhằn mà người Việt đã chịu đựng suốt thời gian mà họ gọi là Cuôc Chiến Tranh Thần Thánh Chống Mỹ - nhưng rồi tôi bỏ cái ý định ấy. Trong khi thành phố có nhiều chùa và đền đẹp, và hấp dẫn, nếu như có hơi thiếu tu bổ, các viện bảo tàng cũng đáng xem, thì Sàigòn đối với tôi là thả rong trên các đường phố, nơi mà hầu như mỗi bước chân đều bảo đảm sẽ đem đến cho bạn những điều bạn chưa từng thấy qua ở bất cứ nơi đâu. Đó là thở, hít, nếm, thấm đẫm càng nhiều càng tốt. Tourism by osmosis.

Thế là tôi quyết định làm một cú ngoạn mục hơn bằng cách cuốc bộ về phía bờ sông. Điều này đòi hỏi bạn phải đi qua con đường mà tôi gọi là sòng ru-lét, đó là cái bùng binh trước chợ Bến Thành. Ở đây, nơi bốn con đường huyết mạch tụ về với một dòng trắng khói xe buýt, xe cam nhông, xe hơi, xe máy, xe đạp và cái dòng xe ấy biến dạng như những nhiễm sắc thể đột biến chưa từng biết tới. Như ca sĩ Frank Sinatra đã hát "Nếu bạn có thể qua đường ở đây. Bạn có thể qua đường ở bất cứ đâu". Tôi nhào đại vào cái dòng ấy và kỳ diệu thay, cái dòng chảy ấy tách ra và trôi chung quanh tôi. Bí quyết sống còn để qua một con đường tấp nập ở Sàigòn là bạn chớ có thình lình đứng lại. Bạn sẽ làm hỗn loạn trật tự giao thông, và thương tích là điều kế tiếp không thể tránh khỏi.

Qua khỏi đường bình yên, tôi thán phục ngắm các cô bé học sinh đi xe đạp: lưng thẳng trong cái dáng ung dung với chiếc áo dài. Một người đàn ông, khuôn mặt dãi dầu nâu như miếng da thuộc bình bịch xuyên qua cái dòng hỗn độn ấy với chừng ít nhất 50 con vịt trên chiếc xe máy của ông ta. Tôi cho người đàn bà ăn xin mà tôi quen mặt ít đô. khuôn mặt của bà đã biến dạng vì bom napalm khi bà hãy còn là một đứa trẻ.

Tôi hướng về phía đường Lê Lợi, và nhận thấy số tiệm bán áo quần vải vóc đã tăng lên, rồi quẹo vào đường Nguyễn Huệ rồi xuống đường Tôn Đức Thắng. Tôi tìm một trong những người bán vé chuyến đò dọc sông Sàigòn, và mặc cả xuống 200 ngàn đồng -họ luôn nói thách- cho chuyến đi 2 tiếng trên một chiếc đò máy dài. Tôi luôn đi thuyền dọc sông Sàigòn bằng đò bất cứ khi nào đến Sàigòn, là điều bắt buộc cho mọi du khách.

Sông Sàigòn là một hải cảng nhộn nhịp với các âm thanh của cuộc sống và thương mãi. Từ đây ta có thể đón tàu cánh ngầm đi Vũng Tàu, trước đây là nơi nghỉ mát cấp St Jacques của người Pháp. Nhưng mà rồi bạn sẽ phật ý bời vì bờ biển ờ đó không đáng cho chuyến đi. Thực vậy, Việt Nam không phải là chốn du lịch nếu như bạn chỉ muốn đến để tắm biển.

Thuyền trưởng kiêm thủy thủ đoàn của tôi là một phụ nữ trung niên với cặp mắt sáng, không biết Anh Ngữ nhưng biết nghệ thuật cười, gật, chỉ tay. Chúng tôi dập dềnh sang bên bờ kia, luồn lách qua những chiếc thuyền nhỏ và những đám lục bình dày xanh mởn, rồi qua dưới một cái bảng quảng cáo xe Mercedes-Benz và Sky TV bằng đèn néon rồi tiến vào một thế giới khác.

Tôi nhìn ngoái lại thành phố Sàigòn, nó dường như mỗi lúc một cao hơn sau mỗi lần tôi đến, và về phía các túp nhà bằng gỗ rệu rã hoặc bằng những thanh sắt cong queo dẫn chúng tôi đến khu trung tâm của ngoại thành quận 4. Khi lướt đi xa hơn trên những thửa ruộng lúa và lau sậy, thật khó mà tưởng tượng là chúng tôi chỉ cách cái trung tâm nhiệt náo điên cuồng ấy có dăm phút, nơi những người thợ giầy gõ bùa cồm cộp trên vỉa hè và những du khách cả tin sửng sốt nhìn theo các tay dựt dọc biến mất trên các chiếc xe máy phóng nhanh cùng với túi xách hoặc máy ảnh của họ. Chúng tôi vẫy chào các phụ nữ đang làm việc trên các thửa ruộng và với những người đàn ông để ngực trần trên các chiếc thuyền chở khẳm dưới sức nặng của các bó sậy mới cắt. Tôi ngồi dựa vào mạn thuyền với ánh mặt trời trên mặt và lắng tai nghe cái âm thanh yên lặng cầm nhịp bằng tiếng ho khục khặc của máy thuyền.

Một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi nhập trở lại dòng sông Sàigòn như những kẻ du hành ngoài không gian và lại bắt đầu bì bạch trở về hướng thành phố, ngang qua các chiếc phà chật như nêm, những thùng chứa hàng khổng lồ, những chiếc thuyền gỗ phồng lên như những con cá voi có chửa, và qua đủ mọi loại thuyền lớn nhỏ chuyên chở và bán bất cứ thứ gì tưởng tượng được. Ở đây, các gia đình sinh sống trên các thuyền của họ, cảnh sát giang hải ngủ trên các trạm nổi trên sông và trồng hoa trong các chậu kiểng nhỏ, dân làng ở hai ven bờ di chuyển bằng xe máy, xe đạp hay đi bộ. Lúc thả bộ về nhà người bạn ở gần nhà thờ Đức Bà, nơi tôi đang ở, tôi có thể cảm nhận được ráng chiều qua cái bóng đổ trên đường Đồng Khởi, con phố đã được Graham Greene biến thành nổi tiếng với con đường Catinat ở trong cuốn tiểu thuyết Người Mỹ Thầm Lặng. Đi qua khách sạn Majestic, Continental, Givral, các tiệm bán đồ cổ, tranh ảnh, tơ lụa, các tiệm may thời trang và các tiệm bán đồ trang trí nội thất.

Có rất nhiều điều thuộc về lịch sử ở đây, rất nhiều thứ gợi đến quá khứ, đặc biệt là những thứ gắn liền với chiến tranh. Nhưng tôi nhận thấy những thay đổi. Các khách sạn mới và cao mọc lên. Không còn nhiều tiệm rẻ tiền chuyên bán những thẻ bài giả hay các tẩu hút thuốc phiện cho du khách. Số ăn xin cũng bớt đi. Nhiều xe hơi hơn và ít xích lô đi. Những tệ nạn trên đường phố đang biến mất dần và tôi có thể cảm nhận được sự trù phú. Tuy nhiên Sàigòn vẫn giữ được các nét đặc thù đã tạo dáng cho thành phố này. Không nơi nào giống nơi này cả.

Ở bên ngoài Bưu Điện, là toà nhà ưa thích của tôi tại Sàigòn, các cô gái trẻ bán bưu thiếp, các album đựng tem và các bộ sưu tập tiền cũ Việt Nam bao quanh lấy tôi. "Này này ! Mua đi ! Hôm nay xui chẳng bán được gì cả !" Các cô nói với tôi bằng thứ Anh Ngữ sái văn phạm.

Tôi ngồi xuống trên một cái ghế dài đã bắt đầu biến mất dần bên trong Bưu Điện và nghiền ngẫm tấm bản đồ Đông Dương cũ được vẽ trên tường. Tôi gật đầu chào bức sơn dầu lớn vẽ chân dung Bác Hồ, người đã đánh bại người Pháp và dọn đường cho cái chiến thắng trước sức mạnh quân sự vô song của người Mỹ. Ông ta sẽ nghĩ gì về Sàigòn hôm nay? Ông ấy có biết là nửa dân số Việt Nam bây giờ dưới 25 tuổi, và số này không biết đến chiến tranh? Hoặc những quán cà phê lịch thiệp kiểu Pháp đang rộ lên ở ngay công viên trên đường Lê Duẩn, nơi mà cách đây không lâu chỉ có hai thứ bán được ở đó, là những tấm bưu thiếp rẻ tiền và các cô gái ăn sương với giá 5 đô?

Ông ấy hẳn là hài lòng với Bưu Điện vừa được trùng tu. Hoành tráng và khoảng khoát, râm ran tiếng người trả tiền, gửi thư và gọi điện thoại cho thân nhân ở trong nước hay ở ngoại quốc.

Tôi ngồi đây, với một tập bưu thiếp mới trong lòng, tôi vạch chương trình cho buổi tối trước mặt. Có lẽ vì cái nóng ấm dễ chịu, cái ánh sáng hờ hững của các ngọn đèn đường, cái làn khói toả ra từ các lò nướng trên hè phố, cái âm âm liên lỉ từ xe cộ ban đêm đã mang lại cho đêm Sàigòn cái tính cách như trong những giấc mơ mà ta không nên lãng phí mỗi khi có dịp thưởng thức.

Tôi quyết định lên bơi ở cái hồ tắm ở tầng 14 của Diamond Plaza, một chai bia trước bữa ăn tối ở Sàigòn-Sàigòn, cái bar rượu tuyệt diệu ở sân thượng khách sạn Caravelle, nơi hầu như có thể ngắm toàn cảnh thành phố, bữa ăn tối với thịt nướng ở Lương Sơn Quán trên đường Lý Tự Trọng, nơi luôn luôn đầy ắp các gia đình người Việt đến ăn tối, và rồi thả bộ đến tiệm rượu Blue Gecko kế bên, nơi họ chơi thứ nhạc ồn ào nhất và có các bàn bi da tốt nhất trong các tiệm rượu ở thành phố.

Sau đó, tuỳ vào lượng rượu uống nhiều hay ít, tôi sẽ lấy taxi xuống đường Phạm Ngũ Lão, chỗ đóng đô của dân tây ba lô, nơi có các tiệm rượu mở cửa trễ nhất so với bất cứ nơi nào trong thành phố. Ngày mai ư? Tôi có thể đi xem Dinh Độc Lập, nơi các chiến xa của lính miền bắc đã ủi sập cổng xông vào năm 1975. Nhưng cũng có thể tôi chỉ lại tiếp tục lang thang trên các đường phố Sàigòn . . .

Tôi thoắt giật mình ra khỏi giấc mơ vì một tiếng gọi quen thuộc.

"Này này ! Đánh giầy không? Rẻ lắm. Hai đô."

Tôi quay lại, và kia kìa, đang cười rộng miệng với tôi từ các bậc tam cấp ở phía ngoài, là "cậu ca sĩ". Cậu bé cao hơn nhưng vẫn ốm như một cọng giá, và từ cái chỗ tôi đang ngồi, đôi giầy của cậu ta vẫn quá khổ rất nhiều so với đôi chân. Nhưng chúng vẫn được đánh bóng đến độ tuyệt hảo, và nếu như có gì khác nữa ở đôi giầy ấy, chúng xem chừng nguy hiểm hơn bao giờ hết.


Mai Xuân Vỹ phỏng dịch


[1] "The Winklepicker Boy". Winklepicker là loại giầy mũi nhọn vẫn được các Rock và Pop stars mang từ những thập niên 60 bắt đầu với The Beatles cho đến giờ. Tạm dịch là "cậu ca sĩ" vậy.

[2] Tourism by osmosis. Tôi xin chừa cái chữ này lại. Dịch là "du lịch bằng cảm nhận" có lẽ được phần nào cái ý, nhưng lại không ...hết ý! Bạn nào có ý hay xin giúp dùm.
   
Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất